Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2026. Luật này đã sửa đổi, bổ sung các quy định còn vướng mắc, bất cập trong thực tiễn giải quyết vụ việc phá sản; đồng thời thiết lập hành lang pháp lý thuận lợi nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng như bảo đảm việc tuyên bố phá sản và thanh lý tài sản được thực hiện kịp thời đối với các trường hợp không còn khả năng phục hồi.
Luật gồm 08 chương, 88 điều. So với Luật Phá sản năm 2014, Luật có một số điểm mới cơ bản như sau:
1. Về tên gọi của Luật
Luật đổi tên từ “Luật Phá sản” thành “Luật Phục hồi, phá sản” nhằm phản ánh đầy đủ phạm vi điều chỉnh bao gồm hai thủ tục độc lập: thủ tục phục hồi và thủ tục phá sản. Đồng thời, việc đổi tên thể hiện rõ chủ trương ưu tiên phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã ngay từ giai đoạn có nguy cơ mất khả năng thanh toán.
2. Về chính sách của Nhà nước trong phục hồi, phá sản (Điều 4)
Luật quy định Nhà nước có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã gặp khó khăn thông qua các biện pháp về thuế, phí, tín dụng, lãi suất, đất đai, công nghệ, chuyển đổi số và các biện pháp hỗ trợ khác.
Căn cứ khả năng cân đối nguồn lực từng thời kỳ, Chính phủ trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách cụ thể nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình phục hồi hoặc phá sản.
3. Về chi phí phá sản và tạm ứng chi phí phá sản (Điều 20)
Luật quy định ngân sách nhà nước bảo đảm tạm ứng chi phí phá sản trong các trường hợp:
- Người nộp đơn là người lao động, tổ chức công đoàn, cơ quan quản lý thuế hoặc cơ quan bảo hiểm xã hội;
- Doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản hoặc tài sản không đủ để thanh toán chi phí phá sản.
Khoản tạm ứng này được hoàn trả vào ngân sách nhà nước sau khi xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
4. Về thương lượng, hòa giải (Điều 22)
Luật khuyến khích các bên liên quan thực hiện thương lượng, hòa giải trong quá trình giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm tổ chức hòa giải theo đề nghị của các bên. Thẩm phán tiến hành hòa giải đối với tranh chấp liên quan đến tài sản và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận khi các bên đạt được thống nhất.
5. Về giải quyết vụ việc trên môi trường điện tử (Điều 17, Điều 23)
Luật bổ sung quy định cho phép thực hiện các thủ tục trên môi trường điện tử, bao gồm:
- Nộp đơn, nộp lệ phí và chi phí;
- Gửi, nhận văn bản, tài liệu, chứng cứ;
- Tổ chức phiên họp giải quyết vụ việc.
Đồng thời, thông tin về vụ việc phục hồi, phá sản được công khai trên Cổng thông tin điện tử quốc gia.
6. Về thủ tục phục hồi độc lập (Chương II)
Luật quy định thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh là một thủ tục độc lập với thủ tục phá sản.
Doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ hoặc đã mất khả năng thanh toán có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi, kèm theo phương án phục hồi và tài liệu chứng minh.
Luật cũng bổ sung các chính sách hỗ trợ như khoanh nợ thuế, tạm dừng thanh toán một số khoản nợ, tạm dừng đóng một số loại bảo hiểm, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phục hồi.
7. Về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điều 38)
Luật bổ sung hai chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:
- Cơ quan quản lý thuế (theo quy định của pháp luật về quản lý thuế);
- Cơ quan bảo hiểm xã hội (trong trường hợp doanh nghiệp chậm, trốn đóng bảo hiểm kéo dài).
Quy định này góp phần xử lý các doanh nghiệp không còn hoạt động nhưng vẫn tồn tại về mặt pháp lý.
8. Về thủ tục phục hồi, phá sản rút gọn (Chương IV)
Luật bổ sung thủ tục rút gọn áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô nhỏ, ít chủ nợ hoặc số nợ không lớn.
Thời hạn giải quyết được rút ngắn còn một nửa so với thủ tục thông thường; đồng thời quy định điều kiện áp dụng và chuyển đổi giữa thủ tục rút gọn và thủ tục thông thường.
9. Về cơ chế xử lý tài sản
Luật bổ sung các cơ chế xử lý tài sản linh hoạt, bao gồm:
- Cho phép chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp, mảng kinh doanh;
- Cho phép bán tài sản trong trường hợp chi phí bảo quản lớn hơn giá trị tài sản;
- Quy định rõ trách nhiệm của Quản tài viên trong tổ chức thi hành quyết định phá sản;
- Xử lý tài sản không còn giá trị bằng cách loại khỏi khối tài sản phá sản theo quyết định của Tòa án.
10. Về vụ việc có yếu tố nước ngoài
Luật bổ sung quy định về hợp tác quốc tế trong giải quyết phục hồi, phá sản, bao gồm việc yêu cầu hỗ trợ từ Tòa án nước ngoài, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.
11. Về giải quyết tranh chấp trong thủ tục phá sản (Điều 60)
Việc giải quyết tranh chấp được thực hiện ngay trong thủ tục phá sản nhằm bảo đảm nhanh chóng, tiết kiệm chi phí.
Quyết định giải quyết tranh chấp có thể được xem xét lại theo đề nghị của người tham gia thủ tục hoặc kiến nghị của Viện kiểm sát.
Đối với tranh chấp phát sinh trong quá trình phục hồi, việc giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hoặc do Tòa án đang giải quyết vụ việc phá sản thực hiện, tùy từng trường hợp cụ thể.
Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đã thể hiện rõ định hướng chuyển từ “xử lý phá sản” sang “ưu tiên phục hồi”, đồng thời hoàn thiện cơ chế pháp lý theo hướng minh bạch, linh hoạt và phù hợp với thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả xử lý các doanh nghiệp, hợp tác xã gặp khó khăn, thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.