MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT BẦU CỬ QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được Quốc hội khóa XV thông qua vào ngày 24/6/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025.

Luật sửa đổi, bổ sung 51 điều và
bãi bỏ 01 điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân
với các nội dung cơ bản như sau:
1. Sửa đổi các quy định liên quan
đến việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình 2 cấp. Luật đã lược bỏ
toàn bộ các quy định có nội dung liên quan đến cấp huyện và điều chỉnh một số
quy định có liên quan như:
- Giao Ủy ban nhân dân cấp xã quyết
định việc xác định khu vực bỏ phiếu và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường
hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh việc xác định khu vực bỏ phiếu
(khoản 4 Điều 11).
- Quy định tăng số lượng thành
viên của các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương (các Điều 22, 24), cụ thể: Ủy
ban bầu cử ở tỉnh có từ 23 đến 37 thành viên; Ủy ban bầu cử ở xã có từ 9 đến 17
thành viên; Ban bầu cử đại biểu Quốc hội có từ 9 đến 17 thành viên; Ban bầu cử
đại biểu HĐND cấp tỉnh có từ 11 đến 15 thành viên; Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp
xã có từ 9 đến 15 thành viên.
- Quy định các hội nghị hiệp
thương ở tỉnh, thành phố có thành phần đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp xã trực thuộc tham dự thay cho thành phần cấp huyện.
2. Sửa đổi các quy định liên quan
đến việc điều chỉnh giảm thời gian thực hiện quy trình, thủ tục bầu cử
Theo đó, từ thời điểm cuối cùng nộp
hồ so ứng cử đến ngày bầu cử là 42 ngày và từ ngày bầu cử đến ngày có thể khai
mạc kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa XVI/HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là
22 ngày, trong đó:
- Khoảng cách thời gian từ khi nộp
hồ sơ ứng cử (khoản 1 Điều 35) đến ngày cuối cùng tổ chức Hội nghị hiệp thương
lần thứ hai (khoản 1 Điều 43, khoản 1 Điều 44, khoản 1 Điều 53) là 02 ngày; khoảng
cách thời gian từ thời hạn cuối cùng tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ hai đến
ngày cuối tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ ba (khoản 1 Điều 48, khoản 1 Điều
49, khoản 1 Điều 56) là 17 ngày; khoảng cách thời gian từ thời hạn cuối tổ chức
Hội nghị hiệp thương lần thứ ba đến thời hạn cuối công bố, niêm yết danh sách
người ứng cử (khoản 7 Điều 57, Điều 59) là 07 ngày; khoảng cách thời gian từ thời
hạn cuối công bố, niêm yết danh sách người ứng cử đến ngày bầu cử là 16 ngày.
- Thời gian tiến hành bầu cử
thêm, bầu cử lại chậm nhất là 7 ngày sau ngày bầu cử (khoản 3 Điều 79, khoản 4
Điều 80, khoản 2 Điều 81); thời hạn công bố kết quả bầu cử, danh sách trúng cử
đại biểu Quốc hội là chậm nhất 10 ngày sau bầu cử (khoản 1 Điều 86) như đối với
thời hạn công bố kết quả bầu cử, danh sách trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
các cấp (khoản 2 Điều 86); thời gian tiếp nhận khiếu nại về kết quả bầu cử chậm
nhất là 03 ngày kể từ khi công bố kết quả bầu cử và thời gian xem xét giải quyết
khiếu nại về kết quả bầu cử chậm nhất là 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại
(các khoản 1, 2 Điều 87).
3. Sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục
ngay một số vướng mắc trong công tác bầu cử.
- Bổ sung chức danh “Thư ký” của Ủy
ban bầu cử và Ban bầu cử (Điều 22 và các khoản 1, 2 Điều 24); bổ sung thành phần
đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội tham gia làm Ủy viên Ủy ban bầu cử ở tỉnh (khoản
1 Điều 22). Đồng thời, quy định “danh sách Ủy ban bầu cử ở xã phải được gửi đến
Ủy ban bầu cử ở tỉnh” (khoản 2 Điều 22).
- Bổ sung quy định về việc hướng
dẫn chuyển hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
khi người ứng cử chuyển công tác từ đơn vị hành chính này sang đơn vị hành
chính khác mà đã hết thời hạn nộp hồ sơ ứng cử (khoản 4 Điều 36).
- Quy định đa dạng hơn các hình
thức vận động bầu cử, bên cạnh hình thức trực tiếp, có thể tổ chức theo hình thức
trực tuyến, trực tiếp kết hợp với trực tuyến (khoản 1 Điều 66).
Ngoài ra, Luật bổ sung quy định
trong quá trình triển khai thực hiện công tác bầu cử, nếu có phát sinh vướng mắc,
giao Hội đồng bầu cử quốc gia chủ động điều chỉnh thời gian phù hợp với thực tế
và hướng dẫn các tổ chức phụ trách bầu cử thực hiện (khoản 3 Điều 98); bãi bỏ
Điều 96 về quy định chuyển tiếp.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được ban hành
là cơ sở pháp lý để triển khai, thi hành công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa
XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026 - 2031./.
LÊ HIỀN: VPHĐND- UBND